Công dụng độc đáo của ion h+! Yếu tố chính ảnh hưởng đến acid base

Thảo luận trong 'Sức khỏe, làm đẹp' bắt đầu bởi thanhbui93, 21/7/22.

  1. thanhbui93
    Offline

    thanhbui93 Expired VIP

    Tham gia ngày:
    13/5/22
    Bài viết:
    58
    Đã được thích:
    0
    Nồng độ H+ được quyết định bằng sự hoạt động của phần lớn những loại enzyme trong cơ thể. Bởi vậy các đổi thay trong nồng độ H+ thể hiện hoạt động chức năng của tế bào và cơ quan trong cơ thể.
    Sự dịch chuyển của ion hydro (H+): sự cân bởi cũng tương tự như một số ion khác trong cơ thể ví dụ như: phải có sự cân bằng giữa lượng ion H+ được tạo ra và ion H+ thải loại từ cơ thể để bảo đảm cân bởi kiềm toan. Giống như các ion khác, thận là cơ quan đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa việc loại bỏ ion H+ ra khỏi có thể. Tuy nhiên việc điều chỉnh lượng ion H+ trong dịch ngoại bào rất nhiều hơn lượng ion H+ được đào thải bởi thận. Rất nhiều cơ chế đệm acid-base là máu, tế bào, và phổi cũng cực kỳ cần thiết trong duy trì nồng độ bình thường xuyên của ion H+ trong cả dịch ngoại bào và nội bào.
    Nồng độ H+ được quyết định bởi sự hoạt động của phần lớn những loại enzyme trong cơ thể. Bởi thế các thay đổi trong nồng độ H+ thể hiện hoạt động chức năng của tế bào và cơ quan trong cơ thể.
    So với những ion khác, nồng độ ion H+ của các chất dịch trong cơ thể bình thường luôn luôn được giữ ở mức rất thấp. Ví dụ: nồng độ ion Na+ trong dịch ngoại bào (142mEq/L) lớn hơn khoảng 3,5triệu lần nồng độ bình thường của ion H+ (chỉ số trung bình là 0.00004mEq/L). Quan trọng không kém, sự đổi thay của nồng độ ion H+ bình thường trong dịch ngoại bào khoảng 1000000 triệu thì nồng độ ion Na+ bình thường mới bị đổi khác. Như vậy, độ chuẩn xác của ion H+ là cực kỳ cao và nó có vai trò quan trọng đến các chức năng của tế bào.
    >>> Chi tiết: https://ocanydrink.wixsite.com/home/post/ion-h-la-gi
    Ion H+ là một proton tự do duy nhất có xuất xứ từ môt nguyên tử hydro. Các phân tử có cất các nguyên tử hydro có thể giải phòng những ion H+ sau những phản ứng sinh hóa ví dụ như acid. Ví dụ acid hydrochloric (HCl) khi hòa tan trong nước sẽ tạo thành hai ion là H+ và Cl-. Tương tự như vậy, acid carbonic (H2CO3) ion hóa trong nước để tạo thành H+ và HCO3-.
    1 base là một ion hoặc 1 phân tử có thể nhận một ion H+. Ví dụ như HCO3- là 1 ion base vì nó có thể phối hợp với ion H+ để tạo thành H2CO3. Tương tự HPO4- là một base vì nó có thể nhận 1 H+ để tạo thành H2PO4-. Các protein cơ thể cũng có chức năng như base vì một vài acidamin tạo nên protein có điện tích âm có khả năng nhận H+. Các hemoglobin của tế bào máu và những protein trong các tế bào khác của cơ thể là những base quan trọng nhất của cơ thể.
    Thuật ngữ base và kiềm là hai từ đồng nghĩa. Chất kiềm là 1 phân tử được hình thành bởi sự kết hợp của 1 hay nhiều phân tử kiềm như Na, K, Li, v.v… với một ion base ví dụ ion OH-. Những base phản ứng nhanh với những ion H+ để mau chóng lập lại cân bởi nội môi. Tương tự, các chất kiềm phản ứng trong cơ thể loại trừ những ion H+ dư thừa trong dịch cơ thể, chống lại việc sản xuất ra nhiều H+, trong đó có tình trạng nhiễm toan.
    Căn cứ xác định acid mạnh-yếu

    1 acid mạnh là 1 chất nhanh chóng phân ly thành một lượng lớn ion H+ trong dung dịch. Ví dụ HCl. Acid yếu ít có khả năng phân ly ra ion H+ vì khả năng hoạt động yếu. Ví dụ H2CO3. 1 Base mạnh là một chất phản ứng nhanh và mạnh với H+ và mau chóng loại bỏ ion H+ ra khỏi dung dịch. Ví dụ OH- phản ứng với H+ để tạo thành H2O. 1 Base yếu điển hình là HCO3- vì nó phản ứng với H+ mạnh hơn với OH-. Hầu hết các acid và base trong dịch ngoại bào đều là những acid yếu và base yếu. 2 Chất quan trọng nhất là acid carbonic H2CO3 và ion HCO3-.
    Nồng độ ion H+ bình thường xuyên, sự đổi thay pH của cơ thể lúc bị nhiễm toan và nhiễm kiềm

    Nồng độ H+ trong máu thường xuyên được kiểm soát vô cùng chặt chẽ và duy trì quanh một giá tiền trị trung bình khoảng 0.00004 mEq/L (40 nEq/l). Chuyển đổi bình thường khoảng 3-5 nEq/L nhưng trong những điều kiện khắc nghiệt thì nồng độ ion H+ có thể nằm trong khoảng 10-160 nEq/L mà không có gây ra cái chết.
    bằng nồng độ H+ bình thường xuyên là rất thấp và những số quá nhỏ nên người ta biểu thị pH thành những số theo hàm logarit. Mối liên lạc giữa nồng độ ion H+ và pH của cơ thể được thể hiện qua công thức sau:
    pH = log (1/[H+]) = - log [H+]
    Ví dụ bình thường xuyên nồng độ H+ là 40nEq/L ( 0.00000004 Eq/L). Vậy pH bình thường xuyên là:
    pH = - log[0.00000004]
    pH = 7.4
    Từ công thức này có thể thấy pH tỷ lệ nghịch với nồng độ H+, bởi thế lúc nồng độ H+ cao thì pH nhỏ và khi nồng độ H+ không cao thì pH lớn.
    Độ pH bình thường xuyên của máu động mạch là 7.4 trong khi pH máu tĩnh mạch và dịch kẽ là 7.35 bởi lường carbon dioxid (CO2) sinh ra từ những mô vào hòa tan trong dung dịch tạo thành H2CO3. Vì bình thường xuyên độ pH máu động mạch là 7.4, 1 người được coi là bị nhiễm toan khi độ pH giảm dưới mức 7.4 và coi là nhiễm kiềm khi độ pH tăng trên 7.4. Giới hạn dưới của độ pH mà tại đó con người có thể tồn ở được khoảng vài giờ là 6.8 và giới hạn trên của độ pH là khoảng 8.0.
    pH nội bào thường rất thấp hơn so với pH huyết tương vì sự bàn luận chất trong tế bào sẽ tạo ra những acid đặc biệt là acid H2CO3. Độ pH của dịch nội bào được ước tính khoảng 6.0-7.4. Thiếu O2 mô và máu lưu thông kém đến những mô có thể gây ra sự tích tụ acid và gây giảm xuống pH nội bào. Độ pH nước tiểu có thể dao động trong khoảng 4.5-8.0 tùy thuộc tình trang cân bằng acid-base của dịch ngoại bào. Như đã biết, thận đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa nồng độ H+ nhờ quá trình bài tiết acid hoặc base tại ống thận.
    [​IMG]
    Bảng. PH và nồng độ ion H+ ở những mô trong cơ thể
    Ví dụ điển hình của dịch trong cơ thể có tính acid là dịch vị dạ dày HCl (được tiết ra từ tế bào thành của dạ dày). Nồng độ H+ trong những tế bào thành gấp khoảng 4 triệu lần so với nồng độ ion H+ trong máu (pH = 0.8).
     

Chia sẻ trang này