Điều hòa nước và điện giải bởi cơ chế nào

Thảo luận trong 'Sức khỏe, làm đẹp' bắt đầu bởi thanhbui93, 21/7/22.

  1. thanhbui93
    Offline

    thanhbui93 Expired VIP

    Tham gia ngày:
    13/5/22
    Bài viết:
    58
    Đã được thích:
    0
    Nguồn chủ đề
    • Âm thanh (0)
    • Bảng (0)
    • dụng cụ tính toán lâm sàng (0)
    • Hình ảnh (1)
    • quản lý phòng thí nghiệm (0)
    • Mô hình 3D (0)
    • Video (0)
    Thể tích dịch cơ thể và nồng độ chất điện giải thường được duy trì trong những giới hạn vô cùng hẹp mặc dù có sự khác biệt hoàn toàn lớn trong thức ăn nhập vào, hoạt động bàn bạc chất và môi trường. Chuyển hóa của chất dịch cơ thể được duy trì chủ yếu bằng thận.
    Cân bằng muối và nước phụ thuộc lẫn nhau. Tổng lượng nước trong cơ thể (TBW) khoảng 60% trọng lượng cơ thể ở nam giới (từ khoảng 50% ở người béo phì đến 70% ở người gầy) và khoảng 50% ở phụ nữ. Gần hai phần ba của TBW nằm trong khoang nội bào (chất dịch trong tế bào, hay ICF); 1 phần ba khác là ngoại bào (dịch ngoại bào, hoặc ECF). Thông thường xuyên, khoảng 25% ECF nằm trong khoang nội mạch; 75% còn lại là dịch kẽ (xem hình Ngăn cất chất lỏng tại một người đàn ông 70 kg trung bình).
    Lượng dịch trong một người đàn ông trung bình 70-kg.

    Tổng lượng nước cơ thể = 70 kg × 0,60 =42 L.
    [​IMG]
    Cation nội bào chủ yếu là kali. Cation ngoại bào chủ yếu là natri. Nồng độ cation trong tế bào và ngoài tế bào như sau:
    • Nồng độ Kali trong tế bào trung bình 140 mEq/L.
    • Nồng độ kali tại ngoại bào là 3,5 tới 5 mEq/L.
    • Nồng độ natri trong nội bào là 12 mEq/L.
    • Nồng độ natri trong ngoại bào trung bình 140 mEq/L.
      >>> Chi tiết: Điều hòa nước và điện giải bằng cơ chế nào
    Lực thẩm thấu

    Nồng độ các chất hòa tan phối hợp trong nước là tính thẩm thấu (lượng chất hòa tan trên mỗi L dung dịch), trong dịch cơ thể, tương tự như độ thẩm thấu (số lượng chất tan trên mỗi kg dung dịch). Độ thẩm thấu máu có thể được đo trong phòng thí nghiệm hay ước tính theo công thức
    Áp lực thẩm thấu máu (mOsm/kg) =
    [​IMG]
    Nồng độ natri huyết thanh được tính bởi mEq/L, và glucose và BUN được tính bằng mg/dL. Áp lực thẩm thấu của dịch cơ thể thường xuyên là từ 275 đến 290 mOsm/kg. Natri là yếu tố quyết định chính của áp lực thẩm thấu máu. Sự thay đổi kết quả áp lực thẩm thấu máu có thể là kết quả của các sai sót trong đo nồng độ natri (có thể xảy ra ở những bệnh nhân bị tăng lipid máu hay tăng protein máu vì protein hoặc lipid chiếm không gian trong thể tích huyết thanh lúc phân tích, nồng độ natri huyết thanh bản thân nó không có bị ảnh hưởng. Những cách mới hơn để đo điện giải của huyết thanh với những điện tích ion trực tiếp khắc phục vấn đề này. Một khoảng trống thẩm thấu xuất hiện lúc đo áp lực thẩm thấu vượt quá áp lực thẩm thấu ước tính ≥ 10 mOsm/kg. Nó được gây ra bởi xuất hiện những chất hoạt động thẩm thấu không có đo được trong huyết tương. Phổ biến nhất là các chất cồn (ethanol, methanol, isopropanol, ethylene glycol), mannitol, và glycine.
    Nước đi qua màng tế bào tự do từ các vùng có nồng độ chất hòa tan không quá cao tới những vùng có nồng độ chất hòa tan cao. Bởi thế, áp lực thẩm thấu có khuynh hướng cân bởi qua các khoang dịch cơ thể khác nhau, chủ yếu do sự đi lại của nước chứ chẳng phải chất tan. Các chất tan như urê tự do khuếch tán qua màng tế bào nên có ít hay không có tác động tới bàn bạc nước (ít hoặc không hoạt động thẩm thấu), trong lúc các chất tan được ngăn chặn chủ yếu tại 1 khoang cất chất lỏng, như natri và kali, có tính thẩm thấu lớn nhất.
    Độ tinh khiết, hay tính hiệu quả thẩm thấu phản ánh hoạt tính thẩm thấu và lực hút nước qua khoang dịch (lực thẩm thấu). Áp lực thẩm thấu có thể chống lại các lực khác. Ví dụ, các protein huyết tương có 1 hiệu quả thẩm thấu nhỏ có xu hướng hút nước vào huyết tương; hiệu quả thẩm thấu này thường bị chống lại bằng các lực thủy tĩnh trong lòng mạch- có tác dụng đẩy nước ra khỏi huyết tương.
    Nhập và bài tiết nước

    Trung bình lượng dịch uống hằng ngày vào khoảng hai,5 L. Lượng cần thiết để bù vào lượng mất từ nước tiểu và những nguồn khác là khoảng 1 đến 1,5 L/ngày ở người lớn khỏe mạnh. Tuy nhiên, trên cơ sở ngắn hạn, một thanh niên trẻ trung bình có chức năng thận bình thường xuyên có thể uống ít nhất 200 mL nước mỗi ngày để bài tiết chất thải nitơ và những chất thải khác do quá trình thảo luận chất tế bào. Cần rất nhiều hơn tại những người bị suy giảm xuống khả năng cô đặc nước tiểu. Khả năng cô đặc nước tiểu mất trong
    • Người già
    • Người có đái tháo nhạt, một số tổn thương thận, tăng calci huyết, giảm thiểu muối vô cùng nghiêm trọng, mất nước mãn tính, hay tăng kali huyết.
    • các người uống ethanol, phenytoin, lithium, demeclocycline, hoặc amphotericin B
    • các người có dùng lợi ích liệu thẩm thấu (ví dụ, do chế độ ăn giàu chất đạm hoặc tăng đường huyết)
    Mất nước bắt buộc khác chủ yếu là mất qua phổi và da, bình quân từ 0,4 tới 0,5 mL/kg/h hoặc khoảng 650 tới 850 mL/ngày tại người lớn 70 kg. Với sốt, cho mỗi độ C ở nhiệt độ cao hơn bình thường có thể mất từ 50 đến 75 mL/ngày. Mất qua đường tiêu hóa thường xuyên không có đáng kể, trừ lúc có nôn, tiêu chảy, hoặc cả 2. Mất mồ hôi có thể là đáng kể trong thời gian tiếp xúc với môi trường nóng hoặc tập thể dục quá mức.
    Lượng nước uống được điều hòa bởi khát. Khát được gây ra bằng các thụ thể trong mặt trước bên vùng dưới đồi, phục vụ với sự tăng áp lực thẩm thấu huyết tương (chỉ khoảng 2%) hay giảm xuống thể tích dịch cơ thể. Hiếm lúc rối loạn chức năng vùng dưới dưới đồi sẽ làm giảm khả năng khát.
    Nước bài tiết qua thận được điều chỉnh chủ yếu bằng vasopressin (ADH). Vasopressin được giải phóng từ thùy sau tuyến yên sau và kết quả là tăng tái hấp thu nước trong ống lượn xa. Sự giải phòng Vasopressin được kích thích bằng một trong những điều sau đây:
    • Tăng áp lực thẩm thấu huyết tương
    • giảm xuống thể tích máu
    • giảm huyết áp
    • Căng thẳng
    Vasopressin giải phóng có thể bị suy giảm bởi một vài chất nhất mực (ví dụ ethanol, phenytoin), do những khối u hay những rối loạn thâm nhiễm ảnh hưởng tới thùy sau tuyến yên và do chấn thương não. Trong khá nhiều trường hợp, 1 nguyên nhân cụ thể không thể được xác định.
    Uống nước làm giảm áp lực thẩm thấu huyết tương. Áp lực thẩm thấu huyết tương rất thấp ức chế bài tiết vasopressin, cho phép thận tạo ra nước tiểu pha loãng. Khả năng pha loãng của thận khỏe mạnh ở người trưởng thành trẻ tuổi tương đương lượng nước uống tối đa hằng ngày có thể lên đến 25 L; lượng lớn hơn mau chóng làm giảm xuống áp lực thẩm thấu huyết tương.
     

Chia sẻ trang này